A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

BÀI VIẾT NHÂN DỊP KỶ NIỆM 240 NĂM NGÀY SINH VÀ 160 NĂM NGÀY MẤT DANH NHÂN NGUYỄN CÔNG TRỨ: Nguyễn Công Trứ - Nhân cách và Tài năng

Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, sinh năm Mậu Tuất (1778), tại xã Địa Linh, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình; mất năm Mậu Ngọ (1858), tại làng Uy Viễn – nay xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân ,tỉnh Hà Tĩnh.

Thân sinh của ông là Đức Ngạn Hầu Nguyễn Công Tấn (1720-1800), một người nổi tiếng trong vùng về học vấn, văn chương, đỗ đầu kì thi hương khoa Kỷ Mùi (1739). Thời gian làm quan ở Thái Bình, ông Nguyễn Công Tấn đã kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Phan - người làng Phụng dực, huyện Thương phúc,Trấn Sơn Nam Thượng nay là huyện Thường Tín thành phố Hà Nội. Bà theo chồng về Quỳnh Côi (Thái Bình) sinh sống khi ông Tấn được bổ làm tri huyện ở đây và sinh ra Nguyễn Công Trứ.

Năm Kỷ Dậu (1789), khi Nguyễn Công Trứ 12 tuổi được cha đưa về quê Uy Viễn. Hoàn cảnh đất nước nhiều biến động thời kì Vua Lê Chúa Trịnh, triều đại Tây Sơn và các đời vua triều Nguyễn, gia đình nay đây mai đó đã ảnh hưởng đến việc học hành cũng như về mặt tư tưởng của Nguyễn Công Trứ.

Cổng nhà thờ Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh

Có thể nói, Hà Tĩnh quê cha và Hà Nội quê mẹ - hai vùng quê có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời đã hun đúc, hình thành nên nhân cách trí tuệ, bản lĩnh của một danh nhân kiệt xuất trong lịch sử dân tộc nửa đầu thế kỉ XIX. Hay nói cách khác sự kết tinh của nền Văn minh sông Hồng và sông Lam đã nuôi dưỡng và hình thành nên nhân cách và tài năng Nguyễn Công Trứ - nhà chính trị kinh tế, nhà quân sự và nhà thơ lỗi lạc của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Công Trứ sinh ra trong một gia đình nhà Nho, thưở nhỏ, nổi tiếng thông minh lại được sự giáo dục chu đáo của gia đình nên sớm trở thành một thiếu niên anh tài có văn chương và khí phách hơn người. Ngay thời niên thiếu, ông đã bộc lộ ý chí của mình:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Năm Nhâm Tuất (1804), không một chút công danh, nhân vua Gia Long ra Bắc Hà kinh lý, ông trải chiếu nằm đường để dâng tập “Thái bình thi sách” (Mười kế sách giữ nước thái bình) do bản thân biên soạn, bàn về kế hoạch phục hưng đất nước sau bao nhiêu năm loạn lạc. Nhưng ý kiến của một thư sinh chẳng được thiên tử để mắt tới. Ông nhận thức được rằng, là kẻ sĩ muốn thành trượng phu thì trước hết phải có“danh” mới thực hiện được việc lớn hữu ích cho đời, từ đó ông quyết chí học tập và đi thi. Sau nhiều lần bị hỏng, mãi đến khoa thi Kỷ Mão (1819) ông mới đậu giải nguyên. Năm 1920, Nguyễn Công Trứ mới bắt đầu tham chính với chức Hành tẩu sử quan, sau đó được thăng Tri huyện, Lang trung, Tư nghiệp (Thầy giáo Quốc Tử Giám), Binh bộ thượng thư...Hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ cũng chông gai không kém khoa danh, trong 28 năm làm quan giữ 26 chức vụ khác nhau. Trong lịch sử danh nhân Việt Nam chưa có ai trải qua thăng trầm như ông. Con người có khí phách ngay thẳng, dám làm dám chịu nổi tiếng thanh liêm nhưng vẫn ba lần bị gian thần hãm hại. Làm quan ở cái thời nhiễu nhương, bị đối xử bất công nhưng là con người hành động, ông vẫn giữ vững khí phách, tiết tháo cho một nhà Nho chân chính, không bị đè bẹp giữa cuộc đời. Ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm quan thì cũng như “thằng leo cây”. Người đời kinh ngạc khi thấy Nguyễn Công Trứ từ địa vị cao sang quyền uy của một Đại quan triều đình bị hàm oan trọng tội giáng xuống làm lính thú, nhưng ông vẫn bình thản, ông từng nói: “Lúc làm Đại tướng ta không lấy đó làm vinh, thì nay ta làm lính cũng không thấy nhục”. Nhân cách của ông thực sự đáng ca ngợi, năm lần thăng biến mà không oán vua, không ghét kẻ đã vu oan cho mình. Nguyễn Công Trứ chán với chốn quan trường, hiểu rõ nhân tình thế thái nhưng ông không chán đời, ngược lại luôn yêu đời, hành động vì cuộc đời, vì con người nên dù ở cương vị nào cũng làm tròn chức phận của mình, luôn giữ đúng “thanh, cần, thận , trực”, có đủ trung, dũng, trí, tín. Vì vậy, sau gần 30 năm tham chính, ông đã trả xong “Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo”. Về quê, trí sĩ gác bỏ việc đời, ngao du sơn thủy, sống trong cảnh an nhàn của một kẻ sĩ ung dung tự tại song trong ông có chút ngất ngưởng, lãng tử, tài hoa đáng kính.

Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng khi làm võ tướng chiến công cũng vô cùng hiển hách. Ông giúp triều đình đánh dẹp nhiều cuộc khởi nghĩa nhằm giữ vững chủ quyền lãnh thổ và bình ổn đất nước như cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê Duy Lương... Khoảng năm 1821-1822, vùng châu thổ sông Hồng bị nạn đói, dân Nam Định, Thái Bình, Hải Dương nổi dậy chống triều đình do Phan Bá Vành cầm đầu. Quan quân triều đình nhiều lần tổ chức đánh nhưng đều thất bại, Vua Minh Mạng thấy thế giặc lớn bèn sai Nguyễn Công Trứ đi đánh dẹp và chỉ có một trận có cả nội công lẫn ngoại kích, đội quân của Phan Bá Vành bị dập tắt. Năm 1833, Nông Văn Vân người tỉnh Cao Bằng tập hợp được khá đông họ hàng và dân miền núi nổi dậy thành lập nhà nước tự trị ở Cao Bằng. Quan sở tại chống không nổi xin viện binh, vua Minh Mạng được tin này bèn sai Sơn Hưng Tuyên Tổng đốc Lê Văn Đức làm Tam Tuyên Tổng đốc quân vụ, Hải An Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ làm tham tán đem quân đi tiểu trừ. Ông chỉ làm Tham tán nên mọi kế hoạch đều do Tổng đốc Lê Văn Đức quyết định. Ngay trận đầu quân triều đình thua to vì Nông Văn Vân là một người cầm quân giỏi, lại quen địa hình. Nguyễn Công Trứ biết rằng đánh với Vân phải dùng mưu nên thay vì tấn công, ông cho quân lính nghĩ ngơi, lại tổ chức hát xướng để dân địa phương vui chơi. Quan tuần phủ Trần Văn Sơn mật tâu về kinh “Nguyễn Công Trứ lo ăn lo chơi say sưa đàn hát, không chịu giao chiến, thậm chí không chịu giúp đỡ các đạo quân bạn diệt giặc”. Nhưng vua Minh Mạng tin ở tài điều binh khiển tướng của ông, nên đã châu phê vào sớ “Nguyễn Công Trứ tự thử sở hành, tất hữu biệt toán. Quân lữ chi gian, bất khả di phù ngôn giao động tướng tâm, thích y xử trí”. Đúng như dự đoán, việc quân triều đình án binh bất động, làm cho Nông Văn Vân kiêu căng. Trong khi đó, từng đội quân nhỏ của triều đình đã sục vào dân bản xứ để dò la và ém binh chờ lệnh. Sau gần một năm điều nghiên chiến trận, tháng Chạp năm Quí Tị (1833) đạo quân của Nguyễn Công Trứ và Lê Văn Đức tiến vào sào huyệt VânTrung nhưng Nông Văn Vân đã chạy thoát vào rừng. Nguyễn Công Trứ không cho quân sĩ tiến sâu vì địa hình hiểm trở. Ông sai bao vây bốn mặt, đến mùa hạ lá rừng khô rồi phóng hỏa. Trận hỏa công năm Ất Mùi (1835) đã tiêu diệt Nông Văn Vân và đồng đảng. Đánh thắng trận này, Nguyễn Công Trứ mới thực sự được vua Minh Mạng công nhận là người văn võ song toàn, thăng chức Binh bộ Thượng thư mà vẫn kiêm chức Tổng đốc Hải An... Năm 1848, khi tròn 70 tuổi Nguyễn Công Trứ xin nghỉ hưu. Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, mặc dù đã 80 tuổi nhưng ông vẫn dâng sớ xin vua Tự Đức đi đánh giặc “thân già này còn thở ngày nào xin hiến dâng cho nước ngày ấy”. Tuy nhiên sau đó không lâu, vào ngày 7 tháng 12 năm 1858 ông mất tại quê nhà, thọ 81 tuổi được truy phong Thọ tường tử và Dinh Bình hầu.

Danh nhân Nguyễn Công Trứ không chỉ nổi tiếng văn võ song toàn, mà còn là một nhà kinh tế tài ba. Những năm đầu của triều Nguyễn, khi được triều đình giao cầm quân dẹp loạn, ông nhận ra một chân lý “dân làm loạn vì nghèo đói” và biện pháp trừ loạn tận gốc là “phải làm cho dân có ruộng đất cấy cày, có công việc làm ăn, có được no ấm xã tắc mới yên”. Vì vậy ông lăn xả vào hoạn lộ để hi vọng thực hành ý nguyện làm cho dân no nước mạnh. Nguyễn Công Trứ đã dâng sớ “ Đời xưa chia ruộng, lương của để dân có nghề, cho nên dân yên phận làm ăn nơi thôn ấp, không sinh lòng gian vậy. Hiện nay những dân đói nghèo, rong ăn, rong chơi, lúc cùng lại rủ nhau ăn cướp, tệ ấy khó ngăn hết được. Trước đây thần đi qua tỉnh Nam Định, thấy về phần đất huyện Yên Định, đất đai hoang phế kể tới hàng ngàn mẫu. Dân muốn khai hoang mà không đủ sức. Nay nếu được cấp phát của công cho thì có thể chiêu mộ dân nghèo mà khẩn trị được. Làm như thế triều đình không tốn bao nhiêu mà cái lợi lâu dài mãi mãi ”. Vị quan Dinh Điền Sứ ở tuổi ngũ tuần đã tự mình tìm hiểu vùng đất Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình sau đó dâng sớ về triều đình xin thực thi 3 việc. Một: nghiêm trị bọn du thủ, du thực, gian phi. Hai: trừng trị bọn lại dịch tham nhũng, thải bỏ bọn bất lực, khen thưởng người liêm khiết. Ba: khẩn hoang để dân có ruộng cày cấy, có nghề làm ăn. Năm Mậu Tý (1828) ông được vua Minh Mạng cử làm Dinh điền sứ, bắt đầu thực thi công việc của mình. Ông đã đi kinh lý khắp bãi bồi duyên hải, tự vẽ bản đồ, phát trâu bò, nông cụ cho dân để khẩn hoang. Không chỉ là người có tâm huyết mà ông còn có trí tuệ, năng lực tổ chức xuất chúng, ngày đêm lặn lội, lo toan lắng nghe ý kiến tìm mưu hay, kế giỏi để vận dụng vào việc làm thiết thực có hiệu quả. Chỉ trong 2 năm (1828-1829) ông đã chiêu tập lưu dân khai phá đất hoang lập huyện Tiền Hải (Thái Bình) rộng đến 18.970 mẫu ruộng, huyện Kim Sơn (Ninh Bình) được 14.600 mẫu và hai tổng Hoành Thu và Ninh Nhất (ven bờ biển Nam Định). Nhờ đó mà những vùng đất hoang vắng, chua phèn dần trở thành làng xóm đông vui, đồng ruộng bát ngát với hệ thống kênh mương, đường sá thuận lợi. Sự nghiệp của ông trong lĩnh vực kinh tế đã được đông đảo nhân dân, nhất là tầng lớp nghèo khổ các vùng kể trên vô cùng biết ơn, cảm phục, quý trọng, tôn thờ như bậc thánh hiền.

Nguyễn Công Trứ không chỉ là một nhà kinh tế lỗi lạc, nhà quản trị tài năng, vị tướng tài mà còn là nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông sáng tác nhiều thơ Nôm theo thể thơ Đường luật và Ca trù nhưng phần lớn đã bị thất lạc, hiện chỉ còn khoảng 150 bài. Thơ ông phản ánh nội dung phong phú cuộc đời ông, vạch trần tố cáo sự lừa lọc bạc bẽo của xã hội đương thời, đề cao chí nam nhi đến ca ngợi thú cầm kỳ thi tửu. Qua thơ, ông gửi gắm vui buồn của lòng mình, lời thơ mộc mạc, nôm na không tỏ vẽ nhưng ý tứ chân thành, hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững vàng quả quyết, chí khí mạnh mẽ và thái độ cầu tiến vươn lên của một người suốt đời hăng hái làm việc cho đời. Có lẽ thưở hàn vi gian truân khổ sở, lúc làm quan ba chìm bảy nổi, nên khi về hưu nhàn tản tiêu dao mà ông tự tác thành một nhà thi sĩ thực sự có khí phách hơn người. Ông vốn xuất thân cử tử nhưng tác phẩm để lại thì hầu hết là thơ Quốc âm, thu hút được sự chú ý của độc giả đương thời và các danh sĩ phong lưu sau này. Đặc biệt với 60 bài hát nói, ông là người định hình và đưa thể loại hát nói trở thành thể loại văn học độc đáo của Việt Nam. Riêng với hát Ca trù ở quê hương, Nguyễn Công Trứ được xem là người có vai trò đưa làn điệu Ca trù Cổ Đạm – Nghi Xuân lừng danh cả nội dung và hình thức diễn xướng.

Đánh giá về công lao của danh nhân Nguyễn Công Trứ đối với lịch sử dân tộc, học giả Lê Thước đã viết : “Ở đời có ba điều bất hủ: một là lập công, hai là lập đức, ba lập ngôn. Lập công tất là công nghiệp vẻ vang trong bốn cõi. Lập đức tất là đức trạch lưu truyền đến muôn đời. Lập ngôn tất là ngôn luận văn chương, có bổ ích cho nhân tâm thế đạo. Trong ba điều ấy, có được một cũng đã khó, mà gồm cả ba chưa dễ mấy ai. Thường xét nước ta, có một bậc vĩ nhân. Nói về công thời công rất lớn. Nói về đức thời đức rất dày. Mà nói là ngôn luận văn chương rất có giá trị. Nước nhà có được một vĩ nhân như vậy, quốc dân ta há không nên tôn sùng, nên kỷ niệm, nên tượng đồng bia đá hay sao? Bậc vĩ nhân ấy là ai? Là cụ Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ vậy !”.

Hồ Thị Dung - GV trường THPT Nghi Xuân.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Liên kết website
Dành cho quảng cáo